Chúng ta biết rằng bệnh sốt rét do muỗi truyền nhưng làm thế nào
để muỗi truyền được bệnh sốt rét? Có phải tất cả các loài muỗi
Anopheles đều có khả năng truyền bệnh sốt rét không?
Loài muỗi nào truyền bệnh sốt rét?
Muỗi hút máu truyền thoa trùng sang người gây bệnh sốt rét.
Muỗi hút máu truyền thoa trùng sang người gây bệnh sốt rét.
Ảnh: Sức Khoẻ & Đời Sống
Muỗi truyền bệnh sốt rét là loài muỗi Anopheles, trên thế giới có khoảng
420 loài nhưng trong đó có 70 loài là trung gian truyền bệnh sốt rét
cho người trong điều kiện tự nhiên. Ở Việt Nam cho tới nay đã phát hiện
được 59 loài Anopheles, trong đó có 15 loài được xác định là trung gian
truyền bệnh chính, truyền bệnh phụ và nghi ngờ truyền bệnh. Loài muỗi
Anopheles truyền bệnh sốt rét chủ yếu tại Việt Nam đã được Viện Sốt rét -
Ký sinh trùng - Côn trùng xác định gồm An. aminimus hoạt động ở vùng
rừng núi trên toàn quốc, An.dirus hoạt động ở vùng rừng núi từ vĩ tuyến
20 trở vào phía Nam và An.sundaicus hoạt động ở vùng ven biển nước lợ
Nam Bộ. Các loài muỗi trung gian truyền bệnh phụ và nghi ngờ là trung
gian truyền bệnh sốt rét như An.aconitus, An.jeyporiensis, An.maculatus,
An.subpictus, An.sinensis, An.vagus, An.indefinitus, An.campestris,
An.culicifacies, An.interruptus, An.lesteri, An.nimpe... chưa xác định
rõ được vai trò truyền bệnh cụ thể nhưng chúng cũng luôn luôn được cảnh
giác.
Thế thì vai trò truyền bệnh của muỗi được xác định như thế nào?
Muỗi Anopheles muốn thực hiện được vai trò truyền bệnh sốt rét phải
hội đủ các điều kiện và yếu tố cần thiết. Chỉ có muỗi Anopheles cái mới
có khả năng truyền bệnh sốt rét vì nó phải hút máu người hoặc động vật
để thực hiện chức năng sinh sản, còn muỗi đực chỉ hút nhựa cây để sống.
Muỗi phải có tập tính đốt máu người với tỷ lệ đốt người cao và có tuổi
thọ đủ thời gian để ký sinh trùng sốt rét hoàn thành được giai đoạn phát
triển trong cơ thể muỗi từ thể giao bào (gametocytes) đến thể thoa
trùng (sporozoites) tại tuyến nước bọt. Khi muỗi đốt máu người, thoa
trùng ở tuyến nước bọt muỗi xâm nhập theo vết đốt, tiếp tục phát triển
qua các giai đoạn trong cơ thể người và gây bệnh sốt rét. Để ký sinh
trùng sốt rét có thể phát triển được trong cơ thể muỗi, sự tương hợp di
truyền giữa muỗi truyền bệnh với các loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh
cũng là điều kiện cần có và diễn biến mật độ hoạt động của muỗi truyền
bệnh có sự trùng hợp với diễn biến của bệnh sốt rét tại địa phương. Việc
xác định vai trò truyền bệnh của loài muỗi truyền bệnh một cách chính
xác nhất là phát hiện được thể thoa trùng (sporozoites) của ký sinh
trùng sốt rét trong tuyến nước bọt của muỗi. Kỹ thuật thường thực hiện
hiện nay là dùng kính lúp phóng đại mô tuyến nước bọt của muỗi để tìm
thoa trùng, hoặc nếu có điều kiện sử dụng phương pháp Elisa
(Enzyme-linked immunosorbent assay) để phát hiện protein thoa trùng
(circumsporozote protein) trong cơ thể muỗi. Trong các vùng sốt rét lưu
hành hoặc trong các vụ dịch sốt rét, việc xác định vai trò truyền bệnh
của muỗi rất cần thiết để nhận định, đánh giá tình hình một cách cụ thể,
rõ ràng, đồng tời có chỉ định can thiệp biện pháp phù hợp. Một số
trường hợp không xác định được vai trò truyền bệnh của các loài muỗi chủ
yếu thì cần xác định vai trò của các loài muỗi thứ yếu hoặc loài muỗi
nghi ngờ có tỷ lệ và mật độ hoạt động cao để tìm ra thủ phạm có khả năng
lây truyền bệnh tại chỗ và gây dịch.
Muỗi đốt máu truyền thoa trùng sang người để gây bệnh sốt rét mất bao lâu?
Thời gian từ khi muỗi đốt máu truyền thoa trùng (sporozoites) tại
tuyến nước bọt sang người để gây bệnh thể hiện triệu chứng trên lâm sàng
với cơn sốt đầu tiên thường được gọi là thời kỳ ủ bệnh (incubation).
Thời gian ủ bệnh dài hay ngắn tùy thuộc chủng loại ký sinh trùng sốt rét
gây bệnh, trung bình từ 7-21 ngày. Nếu bị nhiễm P.falciparum thì thời
gian ủ bệnh ngắn từ 8-12 ngày. Nếu bị nhiễm P.vivax, thời gian ủ bệnh từ
11-21 ngày; có trường hợp ủ bệnh ngắn (2 tuần) nhưng cũng có trường hợp
ủ bệnh dài (6-12 tháng). Thời gian ủ bệnh còn phụ thuộc vào sức đề
kháng của cơ thể. Trong thời kỳ ủ bệnh, bệnh nhân không có biểu hiện
triệu chứng lâm sàng nào cả. Sau đó bệnh khởi phát với con sốt rét điển
hình trải qua ba giai đoạn: rét run - sốt nóng - ra mồ hôi hoặc không
điển hình tùy theo đối tượng bị nhiễm bệnh. Ở bệnh nhân nhiễm sốt rét
lần đầu, bị sốt liên tục hoặc dao động trong 5-7 ngày đầu rồi mới thành
cơn. Ở trẻ em và người sống ở vùng sốt rét lưu hành đã bị mắc sốt rét có
tính miễn dịch thì sẽ bị sốt không thành cơn, thường biểu hiện triệu
chứng ớn lạnh, gai rét. Bệnh nhân sốt rét còn có triệu chứng khác như
thiếu máu, lách to... Thời gian ủ bệnh giúp xác định hướng chẩn đoán
bệnh khi khai thác các yếu tố dịch tễ ở bệnh nhân, đồng thời cũng là căn
cứ để cấp thuốc tự điều trị cho các đối tượng cần thiết khi đi vào vùng
sốt rét (khách du lịch, người mới vào vùng sốt rét trong vòng 6 tháng)
hoặc ra khỏi khu vực được bảo vệ của vùng sốt rét (đi rừng, ngủ rẫy,
người qua lại biên giới vùng sốt rét lưu hành) xa cơ sở y tế trên 10
ngày. Thời gian 10 ngày này tương ứng với thời gian ủ bệnh trung bình,
nếu ngày đầu tiên vào vùng sốt rét hoặc ra khỏi khu vực được bảo vệ của
vùng sốt rét bị nhiễm bệnh ngay thì sau thời gian ủ bệnh, bệnh sẽ khởi
phát. Dùng thuốc tự điều trị mang theo, bệnh nhân sẽ tự chủ động xử lý
điều trị khi bị mắc bệnh, không để sốt rét thể thông thường chuyển thành
sốt rét thể ác tính gây hậu quả tử vong.
Theo TTƯT. Nguyễn Võ Hinh - Sức Khoẻ & Đời Sống